HUẾ, MỘT ĐÊM MƯA
TRÚC CHI
Một vũng nước trong mười dòng nước đục
Một trăm người tục một chục người thanh
Biết ai gan ruột với mình
Mua tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên Quân
(Trích một câu hò Huế)
Mưa rả rích trên sân. Ngày trước lâu lắm rồi, nó là một cái sân đất nện. Bây giờ, em gái tôi cho lót gạch, nên tiếng mưa ngoài hiên có những âm thanh lạ. Mà nhịp điệu cũng khác. Không còn những tiếng trong trẻo trên những vũng nước con con, khi khoan thai, lúc dồn dập. Nhưng mà tiếng những giọt nước rơi đều trên những tàu lá chuối bên hè thì nghe vẫn là những âm thanh ngày cũ. Ngày thơ ấu, ngày còn cấp sách đến trường, ngày ghé thăm cố quận sau những năm đem cái say sưa, cái hăm hở khi mới bước vào cuộc sống mà đổ vào những chốn khác đầy ánh sáng của tương lai, mà xây dựng cho nhiều thứ nay cũng đã đổ nát ngay chính trong lòng mình...cho đến ngày về đêm nay, gối mái tóc bạc lên kỷ niệm mà nghe mưa. Buồn.
Đâu đây trong gian nhà trống trải này tôi còn nghe được giọng ru em khàn khàn của người vú già đã từng ấm, từng lạnh với gia đình tôi qua ba thế hệ, ba thế hệ nổi chìm theo lớp sóng phế hưng bên ngoài bốn bức tường này... à ơi... đêm khuya thắp dĩa dầu đầy à ơi...dĩa đầu đầy khô hết... Cái điệu ru em ấy, buồn đến chết cả người, ngày xưa vẫn quyện lấy cái chấm xanh lè của một ngọn đèn Hoa Kỳ được vặn nhỏ lại bằng hột đậu, cách chỗ tôi nằm bây giờ không đến hai bước...Và bây giờ, một cánh bèo còn sót lại sau cơn sóng gió kia của lịch sử là tôi, đêm nay, giạt vào cái bến cũ này chong mắt nhìn sững vào bóng tối ngoài mùng, bên tai đôi tiếng muỗi vo ve, nhìn sững vào một mớ ảo ảnh của ngày qua nơi cố lý đang nhảy múa, đang dật dờ trong gian nhà cũ ẩm hơi mưa. Nằm nghe quanh chiếu rộn tang thương. Câu thơ của Vũ Hoàng Chương đang thấm vào tôi, thấm đến lạnh cả người.
Tôi tung chăn ngồi dậy bật đèn.
Ánh điện dọi vào cái bể cạn ngoài sân. Cái bể cạn này được xây cùng lúc với toàn thể nhà vườn khoảng thập niên 20. Như vậy là nó gần 80 tuổi. Tám mươi năm ! Cũng nhiều đấy chứ. Bao nhiêu là đám mây trời góp sương trên Thái Bình Dương mà đổ vào lòng nó. Bao nhiêu là bong bóng nước mưa đã nổi lên, đã vỡ tan, đã biến mất trên khoảng mặt rộng không quá sáu thước vuông. Có nhiều khuôn mặt quen thuộc, thân yêu đã từng soi bòng vào đấy những sáng có nắng xuân tươi mát hay trưa hè vắng lặng. Trong số ấy, cũng có khá nhiều bóng dáng nay đã lên đường về chân trời cũ, nói như Hồ Dzếnh.
Một trong những cái bóng còn lại là tôi đêm nay thao thức mãi mà soi mình vào một hiện tại có nhiêu nét mới mà cũng chập chờn rất nhiều hình ảnh cũ.
Chiều hôm qua, hai anh em tôi thả một vòng xung quanh nhà và vườn, tôi hỏi em tôi:
"Cái bể cạn này ngày xưa không có non bộ. Em mới làm?"
Em gái tôi gốc Huế đã đành, nhưng mà lưu lạc ở bên kia bờ vĩ tuyến từ năm 1947, buông một câu tiếng Bắc nguyên chất:
"Vâng ạ."
Mấy hòn tiểu sơn được gắn liền với nhau bằng một lớp hồ trộn cát vàng thật mịn, có chỗ còn mới quá, điểm dăm vệt xi măng chưa có rêu. Nghĩ đến nét duyên dáng mặn mà trên gương mặt một thiếu phụ mà tôi thấy thoáng đâu đó ở khu Bolsa mấy hôm đi sắm sửa các thứ trước khi về nước, tôi mỉm cười mà nói với em tôi:
"Phải qua mùa mưa này thì cái tiểu cảnh này mới cũ được, mới đẹp được. Có nhiều thứ, như rượu vang tốt, càng già càng đậm đà, mặn mòi."
"Em có biết uống rượu đâu mà phân biệt được đậm với nhạt. Ngoài cái chuyện mới cũ ra, anh thấy hòn non bộ của em có đẹp không? Của người cháu nội ông Cả Lê trên Thành Lồi xuống làm cho em đấy. Anh biết ông Cả chứ?"
Sao lại không? Cái ông Cả này đã nổi tiếng một thời nhờ ở cái tài góp nhặt vật liệu của đất trời mà tạo ra những tác phẩm nghệ thuật nuôi dưỡng được cái tinh trong lòng của nhiều vị hưu quan không còn mơ đến danh, màng đến lợi, những cuộc đời đã bị sóng gió trên cái biển hoạn ấy nó làm tình làm tội đến điều. Nghe thuật lại rằng trước khi chết - khoảng đầu thập niên 30- ông đã dặn kỹ con cháu là quan quách không được dùng đến đinh sắt, cúng vái bên mộ đừng có đốt vàng bạc, bởi vì kim với hỏa là hai thứ tối kỵ trong những tác phẩm chỉ dùng rặt có nhiên liệu thuộc thủy, thổ và mộc. Người nghệ nhân ấy tin rằng, dù ông chết đi nhưng mà kim và hỏa gần huyệt của ông nó có thể ảnh hưởng đến cái khí mà ông đã truyền vào những hòn non bộ rải rác trong nhiều khu vườn cũ ở đây, do chính ông tạo ra. Chuyện nghe từ hồi tôi còn nhỏ, theo cha tôi đến thăm một vị hưu quan dùng những năm tháng còn lại vào việc nghiên cứu Kinh Dịch. Không biết có thật hay không. Nhưng mà cứ tin rằng có cho đời thêm được một nét đẹp. Xưa nay tôi vẫn quý cái đẹp trong tấm lòng thành trong cái thuần túy, những giọt mồ hôi và biết đâu lại không có cả một dòng nước mắt, mà những người nghệ sĩ chân chính đã từng gửi vào tác phẩm của mình.
"À mà cái thế của mấy hòn núi đá này nó nghiêng nghiêng. Anh thấy cũng là lạ."
Tôi đưa tay khua một cụm bèo tấm trên bể cạn. Đã lâu không có dịp vọc nước.
Em tôi cũng khá đấy. Em kể cho anh nghe nhá. Dạo cuối hè, không rõ nắng nôi ra sao hay là lâu đời quá, cái bể cạn nó bị nứt. Em phải thuê người trám lại hai ba chỗ. Luôn thể em nghĩ đến chuyện xây non bộ. Một công hai việc. Hôm em mời anh Liêm, người cháu ông Cả đến xem cũng là đúng vào hôm em nhận được thư anh báo tin anh sắp sửa về nước. Mừng quá, em vui miệng nói cho anh Liêm biết. Thế là anh ấy chọn ngay cái cảnh rất là ...hợp tình hợp lý. Nó có một cái tên đặc biệt lắm."
Vẫn nét cười nghịch ngợm trong mắt, em tôi yên lặng.
Tôi tò mò:
"Tên chi?"
Em tôi chầm chậm ngắt rời từng tiếng:
"Lãng...Tử...Hồi...Đầu."
Tôi trợn mắt, vờ giận dữ mà xổ ngay giọng Bắc:
"Con này láo thật! Dám trêu tao. Anh về thăm nhà. Về lo việc nhà. Chứ còn suốt cả cuộc đời tôi, tôi sống theo cái sở thích của tôi. Có ân hận áy náy gì mà cô bảo anh phải hồi đầu với hồi đuôi."
Em tôi cười ngặt nghẽo:
"Thì để em nói hết hẵng nào. Mà ai bảo anh hỏi. Mấy hòn đá được xếp nghiêng này nó nằm ở cái thế mà anh Liêm gọi vọng cố hương. Anh chả vọng cố hương là gì. Còn lãng tử hay không thì có anh biết lấy anh chứ...có giời mà biết được."
Cái tinh nghịch của em tôi cũng làm tôi vui lây:
"Cô học ở đâu cái lối nói ỡm ờ này vậy? Hôm nào rảnh anh kể chuyện...đời anh cho cô nghe. Chả có gì lạ, chỉ có một đôi chỗ sái với...cái... văn phạm của người đời. Thành thử..."
Chờ một lúc không thấy tôi nó gì nữa, em tôi hỏi:
"Thành thử sao anh?"
Tôi tủm tỉm trêu lại em gái tôi:
"Anh đã nói để hôm nào rảnh mà. Mà ai biểu cô hỏi làm chi. Bây giờ nồi chè đậu ván của cô nó đang chờ anh trong nhà... với lại, có nhiều thứ chuyện mà kể hết ra thì là... sái văn phạm!"
Em tôi đưa tat tạt nhẹ mấy giọt nước trong bể cạn vào người tôi:
"Anh quỉ quái thật."
Hai anh em tôi cười dòn bên bể cạn. Từ hôm về đến Huế cho đến chiều hôm qua, tôi lại mới có dịp cười ngon lành như vậy. Tôi đang cố nhớ lại, nghĩ đến những tiếng cười khác của những ngày cũ trong gian nhà này. Nhưng mà cái thứ ánh sáng này của khoa học lại đưa tôi về nét leo lắt vàng vọt của một đêm thu có mưa Huế dai dẳng, rót xuống thôn Vĩ Dạ này bao nhiêu là nỗi niềm khắc khoải, bao nhiêu là bóng dáng chập chờn...Gối loan trằn trọc...năm canh...Câu mở đầu cho môi của một ca cơ tài danh, có một lối hát tình tứ cơ hồ níu được những gót bước lang thang của tôi, vốn không bao giờ muốn cho tơ lòng mình bén rễ ở một bến bờ nào cả, dù chỉ là rễ bèo nơi chân sóng, câu Nam Bình này tôi vừa nghe cách đây chừng hai trống canh, giờ này tự nhiên mà ai hoài quá. Điệu nhạc này thoát thai từ cung điện Chiêm Thành để biến thành lớp sóng âm trang trọng mà dư ba đã dứt hẳn bên lầu Ngũ Phụng trên cửa Ngọ Môn, đang khiến tôi nghĩ đến cái hận vong quốc trong cõi lòng của nhóm người Chàm lơ thơ sống ở vùng Bình Thuận, Phan Rang, Phan Rí, sống vất vưởng như những oan hồn mà nghiệp dĩ không tạo nỗi một chốn nghỉ ngơi, dù là nghỉ ngơi tạm thời. Toi nhồi kỹ một cối thuốc. Châm cũng rất kỹ để thấy rằng cái đâm đà của một hơi khí thuốc mặn mà lúc này là tất cả liều thuốc an thần. Nó dẹp được một thứ sóng gió quả là bất kỳ trong tôi.
Bịn rịn một lúc lâu với mấy người nhạc công lúc tiễn họ ra cổng vào khoảng giữa hai cơn mưa, tôi trở vào nhà, tai còn nghe được giọng trong trẻo của người ca cơ ấy:
"Tụi em chừ...nhiều khi vì đồng tiền...chớ còn người biết nghe ca Huế mình có khi cả năm không gặp được một ai, Nước Non Nghìn Dặm của mình thấm thía rứa mà có bữa, mới bắt vô sắp nông* thì họ húp súp bún bò xùm xụp, còn la lên mà đòi thêm tương ớt nữa. Nhiều khi cũng tủi lắm anh nạ. À, cái bài Gối loan trăn trọc nớ,mạ em vẽ (dạy) cho em khi em mới có mười tuổi. Lâu lắm mới gặp người đòi nghe cho được. Cám ơn anh. Dạ thôi, xin phép anh."
Thật ra, rằng chính tôi là người phải cám ơn mấy người nhạc công, người ca cơ ấy. Về Huế chuyến này, lụt lội, tôi không đi thăm thú cho được đủ những nơi ngày xưa tôi không có dịp để chân tới, những mà, qua lời giới thiệu của một người hết sức quan tâm đến nền cổ nhạc nước mình, nhạc sĩ Tôn Thất Tiết, tôi lại được thưởng thức tài nghệ của một nhóm nghệ sĩ tài danh bậc nhất ở cố đô. Họ đã đội mưa lặn lội đến tận nhà tôi mà nhất một tiếng đàn tranh, nắn một tiếng đàn nguyệt, búng một tiếng đàn bầu, cất tiếng mà ngân một bài Cổ bản, một câu mái nhì. Mà kể như vậy thì không chi cũng bỏ cái công xếp vó mười mấy tiếng đồng hồ trên máy bay.
"Nước Non Nghìn Dặm của mình". Hai tiếng" của mình" nghe ấm cúng quá, thân mật thiệt. Mà tôi cũng hiểu rồi. Nếu không vì đồng tiền thì có biết bao nhiêu người lại không bỏ ngay cái nghề của mình, dù là nghề tay phải đi nữa, để mà...Và câu tâm sự khá chua chát của một người tài hoa đã phải vuốt chút hận vì cái bạc bẽo của người đời đối với nghệ thuật của mình, câu nói ấy vô tình đã làm sống dậy trong lòng tôi hình ảnh của những giờ phút vinh quang, mà cách đây cũng đã lâu lắm rồi tôi đã thấy tận mắt, của Arthur Rubinstein tại Salle Pleyel, của Jacqueline Dupre' ở Festival Hall, của Yehudi Menuhin ở Royal Albert Hall. Vinh quang trong những đợt vỗ tay kéo dài hằng mấy phút không ngớt đã đành, mà vinh quang ngay từ lúc cử tọa nín thở mà chờ những ngón tay bậc thầy ấy vẫy vùng trên bàn phím, trên bộ dây.
Giữa cái vắng lặng của gian nhà cũ mà tiếng mưa thu rả rích trên những tàu lá chuối rách nát ngoài hiên càng làm tăng thêm vẻ tịch liêu, buồn cho tương lai khá mù mịt của cổ nhạc Huế, tôi lại nhớ đến lời thở than của một nhạc công sau đêm nghe ca trù ở Hà Nội:
"Vâng, thỉnh thoảng cũng có một vài người ở nước ngoài về, muốn nghe cúng tôi đàn hát. Nhưng họ nghe là vì tò mò thôi. Ít ai biết đến cái hay của sênh phách, của tiếng trống, của đàn đáy. Thú thật với ông, lắm lúc cũng nản."
Người thanh niên đàn đáy đã thổ lộ tâm tình với tôi vào một phut nghỉ tay mà nhắp môt hớp trà Bắc Thái khá đậm. Trước đó mấy phút, tiếng đàn ấy đã níu chặt lấy một giọng ca trong trẻo, già dặn. Giọng ca của một ca cơ thanh tú mà mớ tóc mun đã được lồng gọn trong một cái bao nhung đen quấn quanh đầu, buông một cái đuôi gà có đến hai ba cái dấu hỏi rất lững lờ. Người ca cơ ấy, có một tấm nhan sắc dễ làm siêu lòng một kẻ trót mang trong người rất nhiều hệ lụy với ảo ảnh của thanh sắc là tôi, người ca cơ ấy cũng là tay phách đã nắm được cái chân truyền của một bộ môn nghệ thuật đang nghiêng vào cái bóng xế của chính nó.
Ngồi lắng nghe nhịp phách, tiếng đàn, giọng ngân đang quyện lấy nhau trong một bản hòa âm mang nặng cái nghiệp dĩ của những thứ không thể lìa nhau được, ngồi nghe tiếng trống chầu khi gắt gỏng, lúc hiền từ, tôi đã nghĩ đến một cuộc tình có những vướng víu thiết tha của duyên mới bén, e ấp mà không dám thú nhận, dại dột, si mê.
Giữa một đêm của Hà Nội đã đi ngủ sớm, người ta đã đưa cái roi chầu mà mời tôi điểm cho cái mối tình ấy vốn là cái quấn quít của dây tơ, nhịp phách và giọng hát của con người, khi thấy bàn tay tôi cao hứng là nhịp theo những khổ nhặt khoan của một bài Hát Nói có một đôi câu khá dài đã phải chuyển sang lối bắt gối hạc...Khéo dối khách...ứ ư ừ...mà trêu người ừ ư...cho Tư Mã khóc ừ ư ừ...Những mà tôi đã cạn ly rượu bỏ dở từ lúc những nhịp phách dòn bắt đầu dội vào lòng tôi nhiều lớp sóng cảm hoài, mà khua tay, mà chối từ.
Nói cho ngay, cả cuộc đời tôi, dối lòng mình cho mấy rồi thì cuối cùng tôi cũng rụng vì cái quyến rũ vì thanh sắc, dù là chỉ cái quyến rũ nhất thời. Nhưng mà vào cái lúc sương thu Hà Nội đang len dần vào căn phòng có nhiều những âm thanh não nuột, tôi không muốn đùa với nghệ thuật. Tôi không muốn đem những bước chập chững của tôi trên đầu ngọn roi chầu mà giỡn với cái thuần thục của những ngón tay điêu luyện, giọng hát lão luyện. Làm như vậy là vô lễ với nghệ thuật của người ta.
Nếu như là ngày trước kia, ngày còn trẻ, thì tôi cũng không ngần ngại chi mà không cầm lấy cái roi chầu ấy mà học thêm, mà luyện cho kỹ một cái thú mà tôi không đoán chắc là nó có thể đưa mình đi cho đến chỗ say sưa tận cùng của một lối thưởng thức âm nhạc. Nhưng mà bây giờ gánh thêm một cái đam mê nữa, vay thêm một món nợ mà không biết mình có trả được hay không, tôi bắt đầu thấy ngại ở tuổi mà cái sầu vạn cổ mỗi ngày nó thêm chĩu trên cái kiếp người trăm năm, nói như bài Tương Tiến Tửi. Bởi vì đời là một ông chủ nợ rất khắc nghiệt, mà những người mê cái Đẹp của âm thanh, của sắc màu như tôi, vốn liếng có là bao ...ngoài một chữ Tình. Châu báu của lòng tôi, toi phung phí quá nhiều rồi. Còn chi! Sòng đời thua đến trắng hai tay...Để rồi đêm nay ngồi nghe từng trận mưa đều đều đổ xuống mái cũ, tôi chợt hiểu tại sao câu thơ ấy của Nguyễn Bính đang dọi vào lòng tôi những nhịp sóng sầu lãng đãng...nhịp nhàng...liên miên...bất tận...
Bởi vì, chút tình còn lại trong lòng một người đã mòn gót ở nhiều chốn thuộc về tha hương, vốn có nghĩa đen của nó là quê của kẻ khác, bây giờ ngồi ngay trong nhà cũ của mình mà nhớ thương bao nhiêu là người cũ, cảnh cũ, tôi biết trao cho ai, gửi vào đâu bây giờ trời đất ơi!
Chỉ có một quãng đường từ nhà tôi, gọi cho thơ mộng là ở cuối thôn Vĩ, lên đến cầu Trường Tiền mà nhiều lần tôi đã phải quay gót lui tới để tìm nhà một người bạn cũ, một cây mít, một cây nhãn, như một kẻ nghèo khó quanh quản tìm đồng xu cuối cùng vừa mới lỡ đánh rớt xuống đường. Chỉ có một quãng đường mà đã biết bao là đổi thay ngoài đời, bao nhiêu là mất mát trong lòng. Thì thôi, nhắc làm chi bao chuyện khác trên cái xứ Huế này.
Tựa mình vào thành cầu Trường Tiền cánh đây mây hôm vào một buổi chiều tạnh mưa, hết nhìn xuống giòng Hương hình như đã vắng hẳn những tiếng bát cạy, chỉ còn những con đò gắn máy, tôi lại đưa mắt về phía núi Ngự Bình ẩn hiện sau những đám mây chiều xám xịt giữa một bầu trời ẩm hơi mưa, tôi sực nhớ hai câu của Lưu Vũ Tích:
Nhân thế kỷ hồi thương vãng sự
Sơn hình y cựu chẩm hàn lưu**
A, thì ra lòng mình cũng vậy đó cũng là cái tâm sự của người đời muôn thủa đã bao lần (kỷ hồi) xót xa, ngậm ngùi cho chuyện đã qua, còn nhìn ra thì dáng núi muôn thủa vẫn gối đầu (chẩm) lên giòng sông lạnh. Động từ "chẩm" quả là tuyệt diệu, tạo ra được cái tĩnh của núi sông bên cạnh cái động của...việc đời. Mà đâu đó, trong một tâp thơ của anh Bùi Giáng, tôi cũng đã bắt được một cái tứ na ná hai câu của Lưu Vũ Tích:
Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.
Dạ thưa là giọng nhỏ nhẹ của một nữ sinh Đồng Khánh. Khỏi nói. Còn cái thần trong hai câu trên đây của anh Bùi Giáng, nó đột ngột hiện ra ở hai chữ bây giờ. Bởi vì muốn sống với xứ Huế gây giớ, hẳn anh phải thao thức với Huế nghìn sau. Chỗ hàm súc mà cũng là chỗ tuyệt bút trong thi tài của anh Bùi Giáng nó hiện ra trong những điều anh không nhắc đến. Anh đã lược hết mọi thăng trầm vinh nhục của bao lớp người ở chốn này, anh đã gạt qua một bên bao nhiêu là thịnh suy, hưng phế, tồn vong từ khi mảnh đất này còn là châu Ô châu Lý cho đến...bây giờ. Anh đã để cho mạch thơ của người xem thơ anh, tự nó khơi lấy những cảm hoài riêng của mình.
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.
hay thiêt! Hai câu không có thương nhớ chi cả mà xốn xang lạ lùng. Xốn xang hơn cả trận mưa này càng về sáng càng nặng hột, càng tầm tã. Bên ngoài cửa sổ, từng đợt mưa chầm chậm, trải rộng, trải dài ra mãi ra giữa một bầu trời màu chì. Và ngoài xa nữa là một vệt chân trời mới hé, màu thủy ngân. Chừng sáu tiếng nữa là tôi lại phải rời Huế rồi. Theo thói quen, tôi lục quyển sổ tay định ghi lại tâm trạng của mình giữa một đêm mưa nơi cố quận. Nhưng mà vừa cầm lấy cây bút, tôi đã xếp quyển sổ lại. Chữ đâu mà ghi cho hết cái nức nở của một tiếng đàn bầu, cái giọng ngọt ngào của một giọng hát, cái đạt, cái thoát của nhà thơ "điên" vùng Ngũ Phụng Tề Phi. Trưa nay, máy bay rời Phú Bài, cánh bèo bay lại nổi trôi... tha hồ mà bồng bềnh tâm sự với Huế bây giờ.
(Đặc San Quốc Học Đồng Khánh)
