MỸ THO

Về hành chánh, tỉnh Tiền Giang trong dân gian, quen gọi là vùng Mỹ Tho. Trước khi Pháp đến và những năm đầu thế kỷ XX, Mỹ Tho sầm uất, chỉ thua Sài Gòn, bấy giờ Cần Thơ chỉ mới thành hình, chưa khẳng định vai trò, việc khẩn hoang ở miền Tây còn ở bước đầu. "Trên Sài Gòn, dưới Mỹ Tho,
Đâu đâu phong cảnh cũng nhường cho..."
Qui tụ đông dân cư, dễ sống, nhiều kinh rạch chằng chịt góp phần tiêu tưới cho đồng ruộng vườn tược, không tốn công làm thủy lợi như phía Cà Mau, Rạch Giá. Đây là đất Ba Giồng, thời Nguyễn Ánh và Tây Sơn tranh chấp nhau, cuối thế kỷ thứ XVIII ai chiếm được vùng này là giữ được Nam Bộ, với dân cư đông đúc, lúa gạo phì nhiêu. Mỹ đã tập trung thế lực để nắm vùng này, vì vậy nảy ra danh từ quân sự "bình định đồng bằng sông Cửu Long". Nói chung, nơi nào gần sông rạch, ven sông Tiền, luôn luôn đủ nước ngọt, đất cao ráo, không bị lũ lụt, cây cam, cây quýt mọc dễ dàng. Cuối thế kỷ XIX, phong trào Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân đã xuất phát nơi đây. Nhờ định cư lập nghiệp từ 300 năm nên làng xóm định hình với nhiều chùa chiền đình miếu; nghi thức cúng tế nghiêm chỉnh.
Thủ Khoa Huân là kẻ sĩ tiêu biểu cho tinh thần kháng Pháp hồi cuối thế kỷ XIX. Xuất thân là nhà nho, ở Bình Định, ông vào Mỹ Tho dạy học rồi tham gia cuộc kháng chiến của Thiên Hộ Dương. Bị bắt lần thứ nhất, ông bị đày qua Châu Phi, trở về, được Phủ Phương (sau này lãnh chức tổng đốc của Pháp) bảo lãnh đưa về Chợ Lớn để dạy học cho gia đình, nhưng bên trong là kiểm soát theo dõi.
Tại Chợ Lớn, ông móc nối với các hội kín và các nhân sĩ yêu nước, lấy Chợ Gạo (một huyện của Mỹ Tho) làm trung tâm rồi triển khai. Ông Thủ Khoa trốn đi khỏi Chợ Lớn, cuộc khởi nghĩa diễn ra khắp Tân An, quận Châu Thành trước sự đàn áp của giặc. Rốt cuộc ông bị bắt tại Chợ Gạo rồi đưa về Bến Tre, bị xử tử hình. Ông có làm bài thơ tuyệt mệnh bằng chữ Hán mà sau này cụ Phan Bội Châu dịch lại:
"Ruổi dong vó ngựa trả thù chung,
Binh bại cho nên mạng phải cùng.
Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ,
Hơn thua sá kể với anh hùng,
Nổi xung mất vía quân Hồ Lỗ,
Quyết thác không hàng, rạng núi sông.
Tho thủy ngày nay pha máu đỏ,
Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong".
"Tho Thủy" là nước sông Mỹ Tho, "quân Hồ Lỗ" là quân ngoại xâm. Phần mộ của Thủ Khoa Huân nay còn bảo quản tốt ở Bến Tranh, phía chợ Tân Hiệp trên đường từ Mỹ Tho đi Sài Gòn nhìn vào. Ngày nay, hầu hết các tỉnh lỵ ở Nam Bộ đều lấy tên cụ mà đặt cho đường phố, trường học.
Đình Điều Hòa ở tại chợ Mỹ Tho thuộc vào loại hình có tầm cỡ, bảo quản tốt, thờ bốn vị nữ thánh, hiểu là bà hoàng hậu và ba đứa con đã hy sinh, trở thành nữ thần phù hộ người đi biển, gọi khái quát là bà Đại Càn. Ở Nghệ An, có đền thờ quan trọng nhất, tại cửa Cờn, viết ra chữ Hán là Càn. Ta suy luận người ở Mỹ Tho thời xưa từ miền Trung đến, theo đường biển.
Mỹ Tho có nhiều chùa xưa, so với các tỉnh phía đồng bằng, nhưng đáng gọi là kỳ quan vẫn là chùa Vĩnh Tràng (Trường) ở sát tỉnh lỵ. Đây là kiểu kiến trúc vừa dân tộc, vừa hiện đại, chùa cất khoảng trăm năm thôi, sau khi Pháp đến nhưng hấp dẫn du khách. Nếu những ngôi chùa xưa thường là thấp, thiếu ánh sáng, bên trong thâm nghiêm âm u thì chùa Vĩnh Tràng gợi vẻ tươi mát, yêu đời. Đây là kỹ thuật mới về trang trí mà người Pháp ca ngợi, gọi là "phong cách Khải Định". Vua Khải Định qua Pháp, xem kiến trúc lâu đài Tây Phương, khi trở về nghĩ ra việc cách tân kiến trúc cổ truyền mà đỉnh cao là lăng của ông. Cao ráo, nền lót gạch bông, nhiều cửa sổ, trang trí nội thất cùng với những tranh cảnh, hoa văn đều dùng miểng sành sứ, nếu cần thì đập những tô chén mới, để ráp nối với những màu sắc rực rỡ. Miểng sành sứ là mô phỏng theo kỹ thuật gạch men, vẽ tranh cảnh của Tây Phương, nhiều miếng ráp lại thành bức tranh hoặc đóa hoa. Ở đây, dùng những miểng nhiều màu gắn kề nhau, kiểu cẩn xà cừ, để có hình mai, lan, cúc, trúc, hoặc rồng, phụng. Thế mạnh của gắn sành sứ là rực rỡ, khi ánh sáng rọi vào, dễ bảo quản, nếu cần dùng nước lạnh mà rửa thì men sẽ bóng láng như mới. Ở Sài Gòn, giai đoạn Pháp mới đến, có chùa Giác Viên, sau này là lăng Lê Văn Duyệt đã sử dụng khá thành công kỹ thuật này, mà sở trường trong nghề là những nghệ nhân từ Lái Thiêu (tỉnh Sông Bé).
Vào chùa Vĩnh Tràng, ta thấy sự lộng lẫy, có tượng Phật khá to. Cổng tam quan là công trình lớn, ở Nam Bộ ít chùa nào sánh kịp, chứng tỏ mức giàu có của người địa phương và các thân sĩ.
Vùng Vĩnh Kim (chợ Giữa) điển hình cho miệt vườn, đất tốt, nổi danh một thời với giống vú sữa Lò Rèn, do một ông thợ rèn đem giống về (từ đâu không rõ), vỏ mỏng láng, thơm và ngọt hơn các giống vú sữa khác, bán có giá trên thị trường, đẹp về hình thức lại có chất lượng.
Rạch Gầm là con rạch ăn ra sông Tiền, nghe đến, ai không nức lòng nhớ đến vị anh hùng trẻ tuổi Nguyễn Huệ, lần đầu tiên đến vùng Tiền Giang nhưng ông đã biết tận dụng địa thế sông nước đánh tan hai vạn quân Xiêm. Vì chữ Hán không có chữ tương đương nên viết chữ Sầm, đọc là Gầm.
Vùng Rạch Gầm, chợ giữa gồm nhiều làng, trên diện tích nhỏ, dân cư khá đông, thiên nhiên ưu đãi từ thời xa xưa nên có người định cư sớm. Lê Văn Duyệt sinh trưởng ở vùng này, lập công giúp chúa Nguyễn vì tầm nhìn của ông bây giờ chỉ thấy chuyện của địa phương. Ở Vĩnh Kim, có vị tiến sĩ thứ nhì của Nam Bộ là Phan Hiển Đạo, từng ra Huế học, có năng khiếu về cổ nhạc, chính ông đã phổ biến nhạc Huế, có căn cơ, vào Nam Bộ, từ đó phong trào nhạc tài tử phát triển đến các tỉnh lân cận, lần hồi triển khai, vận dụng qua tuồng cải lương, bỏ những bản hát nam, hát khách và những điệu múa "đá giáp phun râu", để diễn xuất với động tác hiện thực hơn. Nhờ vậy, sân khấu có thể diễn những tuồng xã hội, phản ánh những buồn vui đương thời. Thay vì nhắc những chuyện như Tiết Đinh San, Trương Phi.
Ở Vĩnh Kim, nhờ sông nước êm đềm, không bị lũ lụt đến mức thảm hại như phía Đồng Tháp Mười nên giới trung nông, giáo viên có thể giải trí văn hóa, lại ít tốn tiền. Thú vui ấy gọi là "Thả cầm thi", cái tên nghe không ổn cho lắm. Năm ba người bạn, vào đêm trăng tìm chiếc thuyền nhỏ, mang theo đàn kìm, đàn tranh, cái hỏa lò, rau sống, thịt bò, tôm. Thả theo dòng nước, họ đàn ca, ngâm thơ tùy hứng, sau đó ăn đặc sản và uống rượu, đến khi trăng lặn mới về. Trên sông gió mát, có con cò con vạc bay ngang, bên bờ, với ánh đèn của nhà ở ven sông, ánh đèn của ngư phủ, thêm rặng cây bần đầy đom đóm.
Với nhịp sống dồn dập ngày nay, thêm phương tiện băng nhạc, thú vui này gần như ít người nghĩ đến vì mất thời giờ. Họa chăng nhiều bạn nhậu thả thuyền trên sông, nghe nhạc. Cầu mong cho môi trường sông rạch đừng ô nhiễm trong tương lai.
Cây trái của Miệt Vườn phát triển vì công lao bỏ ra ít mà huê lợi thâu vào nhiều hơn làm ruộng. Nhà vườn ít khi dầm mưa, dải nắng. Đó là nhờ kỹ thuật đào mương lên liếp. Đào mương nhỏ, và dài rồi lấy đất đắp lên những liếp dài, hình chữ nhật, những mương cây này có nước chảy thông qua lại, ăn ra sông Cái. Nước lớn, nhất là mùa lũ, đưa phù sa tuôn vào, phù sa lắng xuống mương, sau đôi ba năm mương cạn, cứ móc đất, nạo vét, lấy phù sa bồi đắp gốc cam gốc quýt, thế là có thứ phân tốt. Nước ròng, dùng tấm đăng chặn lại, cá tôm không ra được, bắt lên, dư ăn trong ngày.
Xem qua thì đơn giản, nhưng đây là sự tìm tòi, ứng dụng hợp lý, dựa vào sông nước Cửu Long để làm vườn, một kỹ thuật độc đáo mà khách nước ngoài khen ngợi.
Nhãn là đặc sản của vùng này, chứng tỏ dân Miệt Vườn rất năng động, không bảo thủ. Trước kia, ai cũng tưởng rằng nhãn có ở vùng đất ven biển như Vĩnh Châu (Minh Hải) hoặc giồng đất cát gần Vũng Tàu mà thôi. Với kinh tế thị trường cùng sự thu nhập giống mới cải tạo và cải tạo giống, người miệt vườn đã thử nghiệm rất thành công về cây nhãn, đặc biệt là giống nhãn da bò, năng suất cao. Lại cải tiến kỹ thuật tiêu tưới, tận dụng thế mạnh của phân hóa học, người địa phương cho nhãn có trái "trái mùa", vừa sau tết, nhờ vậy bán giá cao. Chôm chôm nhãn, giống mới ra đời, cơm dày, thơm như nhãn nhưng chưa thành công cho lắm vì về hình thức trái này có màu không đẹp.
Nhìn những vườn nhãn dọc theo quốc lộ, ta không khỏi tự hào, thấy rằng đất là mẹ hiền, khéo sử dụng, đất chẳng bao giờ phụ con người. Nhưng một nét của miệt vườn sông Cửu Long vẫn là sinh hoạt của vùng cù lao Năm Thôn, được trưng khẩu từ ba trăm năm, với ưu thế phù sa tốt. Gần cù lao này, lần hồi bồi đắp thêm những cù lao nhỏ, gọi Cồn: thí dụ Cồn Tre.
Từ Cai Lậy, ta chịu khó theo con lộ nhỏ, xuống bờ sông Tiền, bên kia là cù lao, gió thổi mát rượi. Nhìn con sông rộng vẫn không thích thú như khi ta bắt gặp vài cù lao giữa sông. Cù lao tạo thêm vẻ ấm cúng, thân mật.
Cồn Tre, đặt tên như thế vì khi phù sa vừa nổi lên mặt nước, chưa có hình dáng rõ rệt, bốn phía sóng vỗ ngày đêm tưởng chừng như vùng phù sa nhỏ bé ấy sẽ sụp lở, dời đi nơi khác.
Bỗng dưng trong mớ rác rến, cỏ dại và lục bình phiêu bạt lại có một gốc tre tươi, chắc là từ phía thượng nguồn trôi đến vì đất lở. Gốc tre ấy nằm nghiêng, nhờ rễ và nhánh vướng lại nên không trôi, phù sa quyện vào, mọc nghiêng rồi mọc thẳng, bám rễ chắc chắn. Gốc ra lần hồi trở thành bụi tre nhỏ, rễ tre gìn giữ phù sa. Nhiều trái bần chín rụng trôi đến, tan rã, hột bần mọc lên, trăm hột được vài chục hột. Hiện tượng sống động ấy kéo dài chừng mươi năm. Có người thấy địa thế tốt, lại là đất vô chủ nên xin trưng khẩn, chờ tương lai gần, thế nào cũng tìm được vùng đất màu mỡ mà cắm dùi, trồng thêm vài nhánh bần để giữ đất. Cồn Tre thành hình, ngày càng to rộng, thêm người khác đến, không ai tranh cãi với ai. Nơi đất mới, giữa sóng gió muôn trùng, cần góp sức, mỗi người trồng thêm bần một phía. Vùng Cồn Tre quả là phì nhiêu, ban đầu, trồng đu đủ rồi mía, rủi sạt lở cũng không mất vốn. Các giống cây ăn trái cần đất cứng "có chân" vững hơn. Đến nay, đó là vùng đất lý tưởng, chung quanh có bờ đê để chận nước lớn và đề phòng những cơn lũ lụt. Nhờ bờ đê, bên trong đất trở nên khô ráo, từng khoảnh trên đê, bố trí ống cống để điều chỉnh cho nước ra vào.
Với lòng yêu quê hương đất nước, du khách đã thấy sức cần cù, kiên nhẫn của người phía đồng bằng. Lại còn sự cực khổ, thiếu tiệm quán, thiếu thuốc men lúc đau ốm, phải liên lạc với cù lao lớn, hoặc với phía đất liền. Nhà cửa lần hồi khang trang, nhờ khai thác tối đa khả năng mà thiên nhiên cho phép.
Nuôi vịt, thả ấu, lặn xuống bãi mò ốc gạo vì vùng này là nơi lý tưởng cho ốc gạo sinh sôi nẩy nở. Ốc gạo ăn ngon, bán giá cao, tại Bắc Mỹ Thuận, lắm khi đưa về Sài Gòn, béo và mềm, có thể gọi là món ngon nhất trong các loài ốc ở sông. Ốc gạo dường như chỉ sống quanh quẩn ở sông Tiền, tại vùng Cái Bè, nơi xa hơn, khó gặp với khối lượng to.
Dạo chơi Cồn Tre, cảnh vật hiện ra lạ mắt. Những dây mướp ở đây mọc tươi tắn, không cần săn sóc như trồng để làm cảnh trang trí, hoa vàng lá xanh mơn mởn. Chôm chôm thì khỏi nói, trái to, sai oằn, trẻ con chẳng muốn ăn. Mùa bắp, nhờ phù sa, bắp rất ngọt, ăn vui chơi buổi xế trưa, bán qua đất liền được giá. Nước ra vào theo ống cống khi nước lớn là cá tôm mắc cạn trong vườn, tha hồ ăn nhậu. Nhà cửa khang trang, nỗi buồn là quanh quẩn chỉ nghe nhạc trong băng cát-xết, hoặc xem truyền hình. Muốn giải trí, vào đất liền, thấy bao la, tận phía Vĩnh Long, cũng vui mắt. Ghe tải, đò máy qua lại, rộn rịp nhưng dường như chạy chậm giữa hai bờ sông bao la.
Lúc qua Cồn Tre, nhìn phía thượng nguồn, ta chú ý một hiện tượng lạ: ngay vàm Trà Lọt, xã Hòa Khánh, sông Tiền không chảy bình thường, dòng nước như dựng đứng lên, nhấp nhô, mặc dầu không nổi gió to. Gọi sóng lưỡi búa, rất nguy hiểm, sóng dậy lên, rơi vào thuyền, vì vậy, thuyền bị khẳm rất nhanh, suốt khúc sông không dài cho lắm, chẳng ai tát kịp. Theo tôi hiểu, đây là khúc sông Tiền, khá rộng phía Bắc Mỹ Thuận, bỗng dưng lại bị bó rọ, trở nên hẹp bất thường. Nước chảy xiết, như từ trong lòng cái ve chai khi tuôn ra ngoài, qua cổ chai bé nhỏ. Đồng bào địa phương gọi đây là vàm Mân hoặc vàm Mẫn. Nhất là khi gió lớn, mưa to, sóng nổi lên bất chợt, chẳng ai trở tay kịp mặc dầu đề phòng trước. Nạn đắm thuyền dễ xảy ra. Hồi đầu thế kỷ, khi đường bộ chưa phát triển, ghe chở hàng hóa lúa gạo hoặc hàng tiêu dùng (mua từ Chợ Lớn) khi qua đây thường bị bọn cướp chận đánh ban ngày. Khổ chủ chẳng dám chống cự, cứ lo đề phòng giữ cho ghe không chìm, của cải trong ghe lúc bấy giờ không đáng kể.
Từ xưa, nơi đây cất miếu thờ, ghi "Phong ba miếu", hiểu là thờ thần sóng gió, quan tri phủ Cao Lãnh, thời Tự Đức là Hồ Trọng Đính lúc đi ngang qua, đã lên xem và sửa tấm biển đề chữ "Hà Dương Thủy Thủ Chi Thần", cứ tháng 3, tháng 9, tháng 10 hằng năm bày ra cúng tế khá long trọng. Thời trước đây, người chủ ghe khá giả, chủ đò máy đi qua thường đốt pháo gọi là "kính lễ", cầu linh thần phò hộ may mắn.
"Sông sâu nước chảy" là "địa lý", là "phong thủy" tốt mà ông cha ta thời xưa đã dành ưu tiên khi muốn định cư. Hiểu theo ngày nay là nơi nước không tù đọng, tiêu tưới dễ dàng, có phù sa từ sông cái bồi đắp, không muỗi mòng, dễ giao lưu với vùng lân cận khi mua bán, chuyên chở sản phẩm buổi kinh tế thị trường.
ĐƯỜNG XE LỬA SÀI GÒN-MỸ THO XƯA
"Ngày xưa, người Pháp mở đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho với mục tiêu là nối liền tuyến xuyên Việt và định kéo dài sang tận Phnom Penh, Kampuchea." Bác Tân Văn Công, 80 tuổi, làm nghề dạy học tại Mỹ Tho từ năm 1943, nhớ lại.
Lý do mở tuyến xe lửa nầy, theo bác Công, vì thời đó Mỹ Tho là đầu mối trung chuyển hàng hóa cho Sài Gòn và Nam Kỳ lục tỉnh, do các tỉnh ở cuối miền đất nước như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng... đường bộ gặp trở ngại vì phải qua 2 con sông Hậu và sông Tiền. Có lẽ cũng vì trở ngại đó mà đường xe lửa xưa chỉ tới Mỹ Tho và nhà ga chót dừng lại ở đầu đường Trưng Trắc, bên bờ sông Tiền, gần vườn hoa Lạc Hồng bây giờ. Hồi đó, ga xe lửa nằm trong dãy nhà ngói cất theo kiểu Pháp, cùng với hệ thống phòng trọ và dịch vụ kéo dài đến chỗ Bưu điện Mỹ Tho ngày nay.
Nằm cạnh ga xe lửa còn có bến tàu với "3 cầu tàu lục tỉnh". Toàn bộ hành khách và hàng hóa từ Sài Gòn đi xe lửa tới Mỹ Tho sẽ xuống tàu đi lục tỉnh và ngược lại, hành khách và sản vật, cây trái từ lục tỉnh đi bằng tàu tới Mỹ Tho cũng lên xe lửa rồi đi tiếp về Sài Gòn. Cũng vì vậy mà Mỹ Tho xưa được xem là "đầu mối trung chuyển." Vào thời đó ga xe lửa Sài Gòn nằm ở đầu đường Lê Lai bây giờ, gần khách sạn Saigon New World. Từ Sài Gòn đi Mỹ Tho, ga thứ nhất gọi là Chợ Lớn Mới, nằm bên hông chợ An Đông. Kế đến là ga Chợ Lớn trên đường Hùng Vương. Các ga tiếp theo là Phú Lâm, Cây Mai, Bình Chánh, Gò Đen, Tân An, Tân Hương, Ông Táo, Tân Hiệp, Trung Lương và Mỹ Tho.
Cũng theo bác Công thì đầu tiên xe lửa chạy bằng hơi nước. Từ Sài Gòn về Mỹ Tho đường rầy xe lửa chủ yếu nằm phía trái, thỉnh thoảng có đoạn nằm bên phải của quốc lộ 1 bây giờ, xưa gọi là đường Cái Quan, lộ Đông Dương, sau đổi lại là quốc lộ 4. Đến khoảng thập niên 1930 thì xe lửa chuyển sang chạy bằng dầu diesel, còn gọi là Autorail. Sự khác biệt của Autorail là thiết kế đẹp hơn, tốc độ nhanh hơn, tiếng ồn nhiều hơn, toa khách có cửa sổ nhìn ra bên ngoài, tiếng còi kêu "hoét, hoét", trong khi xe lửa chạy bằng hơi nước thì tiếng còi kêu "pin, pin". Đầu tiên xe lửa chỉ có ghế ngồi bằng băng gỗ, xếp dọc theo 2 bên thành xe. Tuyến đường xa thì có hạng nhất, hạng nhì, có phòng riêng, bên trong có 2 tầng và giá vé cũng mắc tiền hơn. Riêng tuyến Sài Gòn-Mỹ Tho thì chỉ có một hạng thường, do đoạn đường ngắn.
Dù đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài chỉ 70 cây số nhưng ngày xưa đi bằng xe lửa cũng mất chừng 2 tiếng rưỡi. Vì chỉ có một đường rầy duy nhất nên tới ga chót Mỹ Tho, muốn trở đầu để chạy trở lại Sài Gòn thì xe lửa phải... thụt lùi chừng 2 cây số từ vườn hoa Lạc Hồng theo đường Lý Thường Kiệt bây giờ, ra ngoài đồng thì có đường vòng cung. Tại đây đầu xe lửa tách ra khỏi toa rồi chạy vào một đoạn đường rầy khác để nối vào đuôi toa xe lửa và lại chạy thụt lùi trở về nhà ga Mỹ Tho để đầu xe lửa quay về hướng Sài Gòn. Bác Tân Văn Công kể :"Hồi nhỏ, vào những buổi chiều tôi hay nhảy theo xe lửa chạy ra ngoại ô để trở đầu. Giếng nước Mỹ Tho hiện giờ chia làm 2 cũng vì hồi đó có đường xe lửa chạy ở giữa."
Chính xác đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho ngừng hoạt động vào năm nào thì bác Công không nhớ rõ lắm. Bác chỉ nhớ "vào thời ông Diệm, khoảng năm 1959 tôi vẫn còn đi xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho." Bác Công kể tiếp :"Nhớ hồi học xong tiểu học và thi vào lớp đệ thất trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, thầy cho bài luận văn bằng tiếng Pháp và yêu cầu "Trò hãy tả người nhổ răng dạo trên toa xe lửa" mới thấy ảnh hưởng của xe lửa thời bấy giờ. Hồi đó Trường Nguyễn Đình Chiểu mỗi năm chỉ tuyển 200 học sinh cho cả vùng lục tỉnh. Lần đó tôi bị rớt nên phải lên Sài Gòn học ở trường tư thục Đồng Nai, đường Bùi Thị Xuân và ở nội trú trong trường. Lúc đó phát xít Nhật đã qua, ban đêm sợ đồng minh ném bom nên hầu hết trường học trong nội thành đều phải tản cư ra vùng Chợ Lớn. Thường buổi chiều không biết làm gì, bọn học trò nội trú lấy đá xanh để vào đường rầy cho xe lửa chạy ngang cán xẹt lửa coi chơi."
Vì sao ga xe lửa Mỹ Tho xưa lại nổi tiếng trong thời Pháp thuộc? Theo bác Công, vì đây là ga chót nối với các tuyến thủy bộ xuống Nam Kỳ lục tỉnh và hồi đó, sau Sài Gòn thì Mỹ Tho là một trong 3 tỉnh lớn nhất vùng. Có 2 quyển sách viết bằng tiếng Pháp nói về ga xe lửa Mỹ Tho mà bác Công được đọc. Quyển thứ nhất là của một nhà văn Pháp, từng là lính hải quân, có qua Đông Dương và đi xe lửa tới Mỹ Tho để đi tàu xuống lục tỉnh, đã mô tả ga xe lửa Mỹ Tho mang dáng dấp giống như những ga xe lửa bên Pháp. Một quyển sách khác của tổng bí thư đảng cộng sản Pháp thời đó mà bác Công không nhớ rõ tên. Vị nầy sau khi sang VN về đã viết quyển Indochinois, chỉ trích chính sách kỳ thị dân tộc của thực dân Pháp thời bấy giờ. Theo mô tả thì tác giả đã đi cùng với nhà cách mạng Nguyễn An Ninh xuống ga Mỹ Tho, cùng Nguyễn An Ninh vào một bungalow (một dạng nhà trọ xưa) để ở nhưng bị từ chối vì nơi đó chỉ dành cho người Pháp và Âu châu. Chỉ một dân tộc Á châu được vào ở là Nhựt Bổn.
Nhà ga Mỹ Tho xưa kiến trúc theo kiểu Pháp, mái ngói, vách tường, cửa ô vòng nguyệt, có chỗ bán vé, chỗ khách ngồi chờ, có cân dùng để cân hành lý và ai chở nặng thì phải trả nhiều tiền. Ticket xe lửa hồi đó được làm bằng loại giấy rất dầy và cứng. Sau khi thu tiền, người bán vé đưa ticket vào máy đục lỗ và phát ra một tiếng kêu rất vui tai. Khi hành khách lên xe, người soát vé còn bấm ticket một lần nữa. Đường Sài Gòn-Mỹ Tho xưa mỗi ngày có 4-5 chuyến. Chuyến đầu tiên từ Mỹ Tho đi Sài Gòn khởi hành khoảng 4 giờ sáng, phục vụ công chức nhà ở Mỹ Tho nhưng làm việc ở Sài Gòn. Bác Công kể có một người quen làm việc tại Mỹ Tho nhưng chiều nào cũng đi chuyến xe lửa chót lên ga Sài Gòn ở đường Lê Lai. Tại đây có một quán rượu và một người đẹp mà vị khách nầy thích nên một ngày như mọi ngày, ông cứ tới đó ngồi nhâm nhi cho tới sáng rồi đi chuyến xe lửa sớm nhất trở về Mỹ Tho.
MỸ THO VÀ NHỮNG LÒ BÁNH MÌ XƯA
Bánh mì (hay bánh mỳ tùy theo cách viết, nhưng tôi xin được phép viết theo cách gọi phổ thông: bánh mì), là một thứ lương thực thường trực và không thể thiếu trong đời sống người dân. Hiện nay, bất cứ giờ phút nào người tiêu dùng cũng có thể mua cho mình một hoặc vài chục ổ bánh mì. Bánh mì bây giờ nhiều vô kể và có đủ chủng loại...
Còn nhớ ngày xưa, khoảng những năm 1960 -1970 ở thị xã Mỹ Tho không có nhiều "lò" bánh mì như hiện nay. Bánh mì Mỹ Tho cũng trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm theo dòng lịch sử, và cũng bị cuốn theo những đòi hỏi về đa dạng hóa của nền kinh tế thị trường. Ngày xưa, bánh mì thường được nướng bằng lò điện, ở Mỹ Tho lúc đó chỉ có hai lò bánh mì điện: một là lò Minh Cảnh nằm ở góc bến xe khách Mỹ Tho (bây giờ là chợ Thạnh Trị) ra đời trước, đa số những người buôn bán bánh mì thường đến lấy bánh ở đây. Rồi đến những năm 68 -70 ngay góc đường Lý Thường Kiệt - Pasteur (Trần Hưng Đạo bây giờ) lò bánh mì Hải Sơn cũng được khai trương và đi vào hoạt động, ngày nào khách hàng cũng tới đây nườm nượp. Phải nhìn nhận một điều: bánh mì nướng bằng lò điện thơm ngon và giòn lâu hơn bánh mì nướng bằng lò than, củi.
Những năm đó (69 -70) tôi đang học tiểu học, nhà nghèo nên tôi xin với má tôi cho tôi đi bán bánh mì giống như những thằng bạn nối khố để phụ thêm cho gia đình. Đồ nghề bán bánh mì gồm một cái bao bằng vải bồng bột, bên trong lồng thêm vài lớp bao bằng giấy dầu, đảm bảo cho bánh nóng lâu, một cái "túi nhái" may bằng vải có dây rút đeo toòng teng trên cổ để đựng tiền...Cứ thế, chiều nào tôi cũng đến lò bánh mì Hải Sơn đếm bánh mì để bán, ngày đó những người bán bánh mì như tôi cứ đến tại lò mà đếm, bao nhiêu cũng được. Tôi thì sức vóc nhỏ con, yếu ớt nên chỉ dám đếm một lần ba chục ổ bánh "pa-tê" (loại bánh dài và ốm), hai chục ổ bánh "bụng" (bánh mì ngắn mà mập). Nhiều lúc đứng chờ bánh mì ra lò, tôi đã có dịp chứng kiến quy trình làm bánh: Bánh mì trước khi nướng là bột lấy trong những bao bột mì, được thợ nhồi cho dẻo, cho nở rồi kéo thành từng thỏi bột nhỏ, dài. Họ khéo léo ngắt từng đoạn cho vừa với cân lượng rồi dùng dao nhỏ rạch những đường dài dọc theo ổ bánh, để khi nướng bánh mau nở. Xong, họ sắp những ổ bánh còn là bột đó thành hàng lên những chiếc "băng" giống như "băng-ca", kê vào miệng lò nướng rồi kéo một cái tức thì bánh trên cái "băng-ca" đó đều nằm gọn trong lò nướng. Thợ đóng cửa lò nướng lại, rồi điều chỉnh độ nóng của điện sao cho bánh nướng chín vàng mà không bị khét. Khi đủ thời gian, ổ bánh đang nướng trong lò sẽ được những người thợ dùng những cái dầm nhỏ như cái mái chèo, xúc ra một ổ để xem độ chín. Khi bánh đã chín đều người ta dùng những dụng cụ giống như cái xẻng to mà xúc bánh ra, đổ thành đống trên bàn, mỗi lần xúc chừng chục ổ bánh nóng hôi hổi, sờ vào phỏng tay như chơi! Tôi đếm bánh xong, quảy bao bánh lên vai và đi bán, bước chân trẻ thơ lang thang trên khắp các đường phố trong thị xã cất tiếng rao: "Bánh mì nóng giòn đê..ê...ê...ê..." vang dài theo bước chân của tuổi thơ cơ cực. Nếu may mắn bán hết, lại trở về lò đếm bánh tiếp để đi bán, còn nếu bán ế bánh bị nguội người bán có thể trở về lò bánh, nhờ thợ ở đó đưa bánh của mình vào lò "hấp" lại, bảo đảm nóng giòn như bánh mới ra lò!. Thuở ấy, bánh mì còn là một thứ sản phẩm gần như độc quyền của lò bánh và cần thiết cho mọi nhà, nên cái nghề bán bánh mì của tôi cũng mang lại nguồn thu kha khá, có thể phụ thêm vào khoản tiền lương ít ỏi của ba tôi để nuôi sống gia đình. Ngày nắng cũng như ngày mưa, bánh mì bán hết không sợ ế, ngày mưa người mua đứng trong nhà, kêu người bán bánh đem bánh lại mà mua. Người bán chỉ cần chịu khó đội mưa, giữ cho bánh không bị ướt là bán hết ngay, ngày đó những đứa trẻ con nhà nghèo đi bán bánh mì như tôi, đều thuộc lòng bài thơ do tôi tự "chế" để đọc những lúc trời mưa, gió rét bài thơ "con cóc" đó như sau:
"Căm căm gió rét về rồi,
Em đi bán bánh cuộc đời đắng cay
Ngại ngùng rao bánh nóng đây!
Bánh lo ủ ấm - Bàn tay lạnh lùng
Thương nhau nhớ giúp nhau cùng..."
Bây giờ, hình như lò bánh mì ra đời khá nhiều, nhưng toàn là những lò bánh thủ công nướng bằng than, bằng củi nên bánh mì ngày nay không có độ mềm, độ giòn và nóng lâu như xưa. Bánh mì nướng lò điện chỉ những doanh nghiệp chuyên doanh bánh mì mới dám làm vì chi phí cao hơn công nghệ nướng bằng than, củi! Hơn nữa, bánh mì ngày nay có lẽ do trộn nhiều thứ bột khác nên ổ bánh không còn thơm ngon như trước, ổ bánh mau cứng khi nguội chứ không mềm như ngày xưa. Những lò bánh mì điện của Mỹ Tho ngày xưa, cũng đã góp phần giúp đỡ những người nghèo như chúng tôi, có cái mà buôn, mà bán để kiếm sống. Bây giờ, tất cả chỉ còn là quá khứ, hai lò bánh Minh Cảnh và Hải Sơn cũng đã nghỉ hoạt động lâu lắm rồi...Có còn chăng là trong tâm thức những đứa trẻ bán bánh mì ngày xưa như chúng tôi thôi!...
